++ Chào mừng các bạn đến với Xét nghiệm Y học ++ Website chia sẻ các kiến thức về Xét nghiệm Y học ++ Mọi ý kiến xin đóng góp xin gửi về xetnghiemyhocvn@gmail.com
Showing posts with label Huyết học. Show all posts
Showing posts with label Huyết học. Show all posts

Tuesday, February 3, 2015

Xét nghiệm cặn Addis


1. Nguyên lý 

Định lượng nước tiểu trong một thời gian nhất định và tiến hành đếm tế bào cho phép xác định số lượng tê bào nước tiểu trong một phút giúp cho chẩn đoán, theo dõi và điều trị một số bệnh hệ tiết niệu 

2. Cách lấy bệnh phẩm 

Buổi sáng bệnh nhân dậy sớm đi tiểu hết, sau đó uống 300 ml nước đun sôi để nguội và nằm nghỉ. Trong 3 giờ đi tiểu bình thưòng vào một cái bô sạch và đo được bao nhiêu mililit thì ghi vào giấy xét nghiệm. Lắc đều toàn bộ nước tiểu và lấy 10ml đem đến phòng xét nghiệm. 

Monday, December 15, 2014

Cấy máu ngoại vi phân tích nhiễm sắc thể



1.      Nguyên lý
Các tế bào lympho máu ngoại vi khi tiếp xúc với chất gây phân bào (mitogene) có khả năng chuyển dạng thành tế bào non và phân chia. Lợi dụng khả năng đó, người ta nuôi cấy máu ngoại vi trong môi trường có chất kích thích phân bào và sau đó làm ngừng phân bào ở kỳ giữa - giai đoạn có hình dạng nhiễm sắc thể (NST) điển hình để làm tiêu bản quan sát NST. Phân tích NST tế bào máu ngoại vi cho phép chẩn đoán các hội chứng di truyền do bất thường NST, xác định NST giới của cá thể hoặc phát hiện một số tổn thương NST.

Tuesday, December 2, 2014

Xét nghiệm kháng nguyên bạch cầu người (HLA) và ý nghĩa lâm sàng



NHẮC LẠI SINH LÝ
Kháng nguyên bạch cầu người (Human Leukocyte Antigen [HLA]) là các glycoprotein được tìm thấy ở hầu hết các tế bào có nhân trong cơ thể, song chúng có nồng độ cao nhất trên bề mặt của bạch cầu. HLA là thành phẩn chủ yếu được hệ thống miễn dịch của cơ thể sử dụng để quyết định một chất có phải của chính bản thân nó hay là một chất ngoại lai. Trong thực hành lâm sàng, HLA được xác định bằng cách sử đụng các test huyết thanh và kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux) có mặt trên các bạch cầu lympho của bệnh nhân.

Sunday, November 16, 2014

Xét nghiệm số lượng Hồng cầu và ý nghĩa lâm sàng

NHẮC LẠI SINH LÝ
Hồng cầu là các tế bào không nhân có dạng giống như một đĩa hai mặt lõm, được sinh ra trong tủy xương và bị phá hủy trong lách. Các HC có đời sống trung bình là 80 -120 ngày. Vai trò chính của các HC là vận chuyển oxy tới các mô nhờ hemoglobin chứa trong HC.
Sản xuất hồng cầu được kích thích bởi một hormon do thận bài tiết (erythropoietin). Nồng độ erythropoietin được bài tiết ra sẽ tăng lên khi có tình trạng thiếu oxy mô.
 
Thiết đồ hồng cầu

Thursday, November 13, 2014

Xét nghiệm các yếu tố kháng đông (Anti- Coagulation)

XÉT NGHIỆM CÁC YẾU TỐ KHÁNG ĐÔNG MÁU (ANTI - COAGULATION):

PROTEIN C, PROTEIN S, ANTITHROMBIN III



Các chất kháng đông sinh lý bao gồm: Protein C (Pc), protein S (Ps) và antithrombin III (AT III), khi bị thiếu hụt (gặp trong các bệnh nhân bị bệnh di truyền bẩm sinh) hoặc giám sút về hàm lượng và hoạt tính (gặp trong các bệnh nhân bị rối loạn đông máu theo hướng tăng đông) có nguy cơ dẫn đến huyết khối và tắc mạch. Cho nên việc xét nghiệm các yếu tố này rất cần cho chẩn đoán và tiên lượng bệnh.

Xét nghiệm đo độ ngưng tập tiểu cầu


Có hai phương pháp chính được sử dụng để đánh giá độ ngưng tập tiểu cầu: Đo độ ngưng tập tiếu cầu tự phát và đo độ sau khi cho chất kích tập vào.

1.      Nguyên lý: 
          Kỹ thuật đo ngưng tập tiểu cầu bằng máy đo ngưng tập tiểu cầu tự động khi cho chất kích tập từ ngoài vào:
Khi cho chất kích tập (ADP, collagen...), tiểu cầu sẽ ngưng tập không hồi phục và làm thay đổi mật độ quang hoặc độ trở kháng của dòng điện. Mức độ thay đổi ngưng tập được phản ánh qua mức độ thay đổi mật độ quang hoặc độ trở kháng.

2.      Hoá chất, phương tiện, dụng cụ
-      Máy đo ngưng tập tiểu cầu tự động
-      Chất kích tập: ADP, collagen..., với nồng độ thích hợp
-     Mẫu máu: máu tĩnh mạch, lấy bằng bơm tiêm nhựa, ống nhựa, chống đông bằng citrat natri 3,8% (hoặc 3,4%) theo tỷ lệ 1 thể tích chong đông trộn với 9 thể tích máu. Ly tâm thu huyết tương giàu tiểu cầu và huyết tương nghèo tiểu cầu. Trong một số trường hợp, có thể sử dụng máu toàn phần để làm xét nghiệm.

3.      Quy trình kỹ thuật
-     Phân phối huyết tương giàu tiểu cầu và nghèo tiểu cầu vào các cóng (lượng huyết tương tuỳ theo từng máy) và đặt vào các vị trí quy định trên máy.
-      Tiến hành các bước theo tuần tự quy định (phụ thuộc từng loại máy).

4.      Kết quả và đánh giá
Kết quả ngưng tập tiểu cầu được thể hiện bằng: độ ngưng tập tối đa, độ dốc của đường cong ngưng tập, thời gian xuất hiện ngưng tập, thời gian kể từ khi xuất hiện ngưng tập đến khi đạt ngưng tập tối đa. Kết quả ngưng tập tiểu cầu thể hiện bằng độ ngưng tập tối đa thường được sử dụng nhất.
Trị số bình thường của ngưng tập tiểu cầu tuỳ thuộc vào từng loại máy, tuỳ thuộc vào loại, nồng độ chất kích tập. Mỗi phòng xét nghiệm nên có trị số bình thường của riêng mình.


Hình 1: Đường biểu diễn ngưng tập tiểu cầu với ADP ở người bình thưòng
  

Xét nghiệm hoạt tính yếu tố 3 tiểu cầu

HOẠT TÍNH YẾU TỐ 3 TIỂU CẦU
(Phương pháp Rabiner và Hrodek)
Yếu tố 3 tiểu cầu. Nguồn Internet

1.      Nguyên lý
Hoạt tính yếu tố 3 tiểu cầu xác định bằng sự khác nhau của thời gian được phục hồi calci của huyết tương sau khi được hoạt hóa bỏi kaolin trước và sau khi loại bỏ tiểu cầu. Bán định lượng được đánh giá qua đường biểu diễn thời gian đông của huyết tương bình thưòng với số lượng tiểu cầu 50x109/L, 25x109/L, 12,5x109/L.

Wednesday, November 12, 2014

Định lượng sản phẩm thoái hóa Fibrinogen và Fibrin (FDP)

ĐỊNH LƯỢNG SẢN PHẨM THOÁI HÓA FIBRINOGEN VÀ FIBRIN
(Fibrinogen and fibrin degradation products - FDP)

-      FDP có mặt nhanh chóng trong máu ở cả hai trường hợp: tiêu sợi huyết toàn thể và tiêu sợi huyết cục bộ kết hợp với sự lắng dọng fibrin trong lòng mạch (có đông máu trong lòng mạch).
-      Trong máu người bình thưòng có thể có FDP dưới dạng vết, đó là kết quả của tiêu sợi huyết sinh lý. FDP cao hơn trong thời kỳ kinh nguyệt, đặc biệt ỏ người rong kinh. FDP cũng tăng ở người xơ gan, tắc mạch, nhồi máu phổi và trong bệnh nhân ghép thận, ở bệnh nhân ghép thận, tăng FDP trong míổc tiểu là biểu hiện của tình trạng thải ghép.
-     FDP cản trở phản ứng thrombin - fibrinogen, làm kéo dài thời gian thrombin huyết tương. Huyết thanh có FDP sẽ làm tăng nhanh sự kết tụ của tiểu cầu.
-      Phương pháp miễn dịch là phương pháp nhạy nhất để xác định FDP.
Nguồn Internet

Định lượng yếu tố XIII


1.      Nguyên lý
Yếu tố XIII được hoạt hoá trong quá trình đông máu nhờ ion calci và thrombin. Yếu tố XIII hoạt hoá làm ổn định cục fibrin.
Khi có đủ yếu tố XIII cục fibrin sẽ không hoà tan trong dung dịch urê 5mol/l, còn cục fibrin được tạo từ huyết tương thiếu yếu tố XIII sẽ bị tan.

2.      Thuốc thử, hoá chất
-      Huyết tương citrat của bệnh và của chứng.
-      CaCl2 M/40
-      Urê 5 mol/l (300 g/l)
Yếu tố XIIIa. Nguồn Internet

Định lượng các yếu tố dựa trên cơ sở thời gian Throboplastin từng phần

ĐỊNH LƯỢNG CÁC YẾU TỐ DỰA TRÊN CƠ SỞ  
THỜI GIAN THROMBOPLASTIN TỪNG PHẨN

1.      Nguyên lý
Thời gian thromboplastin từng phần của huyết tương người hay huyết tương bò không có một trong các yếu tố VIII, IX, XI và XII sẽ bị kéo dài. Thời gian này sẽ được điều chỉnh khi bổ sung huyết tương có yếu tố thiếu hụt đó. Mức độ điều chỉnh phụ thuộc nồng độ yếu tố thiếu hụt trong huyết tương bổ sung. Dựa vào đó, người ta pha loãng huyết tương cần xét nghiệm ra các nồng độ khác nhau và trộn với huyết tương không có yếu tố cần khảo sát (huyết tương thử) để theo dõi mức độ điều chỉnh và tính ra nồng độ yếu tố đông máu đó.
Ở đây chúng tôi mô tả phương pháp định lượng yếu tố VIII c một thì còn phương pháp định lượng các yếu tố IX, XI, XII cũng tương tự.
Sơ đồ đông máu

Định lượng các yếu tố dựa trên cơ sở xét nghiệm thời gian Prothrombin

ĐỊNH LƯỢNG CÁC YẾU TỐ DỰA TRÊN CƠ SỞ
XÉT NGHIỆM THỜI GIAN PROTHROMBIN
(Prothrombin, yếu tố V, VII và X)
1.     Nguyên lý chung
-     Thời gian prothrombin của huyết tương biểu hiện nồng độ các yếu tố V, VII, X, fibrinogen và prothrombin. Muôn định lượng một trong các yếu tố người ta theo dõi thời gian prothrombin của huyết tương với thuốc thử có dư các yếu tố khác.
-     Thuốc thử đó là các mẫu đông khô của huyết tương người không có prothrombin hoặc yếu tố V hoặc yếu tố VII được bán sẵn. Những sản phẩm này chứa hoạt tính yếu tố cần định lượng không quá 1% nhưng có đủ các yếu tố khác cần thiết cho xét nghiệm thời gian prothrombin.
-     Định lượng dựa trên sự so sánh mức độ điều chỉnh thời gian prothrombin của huyết tương thiếu hụt yếu tố đã biết sau khi thêm vào các nồng độ pha loãng của huyết tương bệnh và sau khi thêm vào các nồng độ pha loãng của huyết tương chứng.
-     Thời gian prothrombin được đánh giá bằng cách dùng thromboplastin từ óc động vật (thỏ) với CaCl2.

Sơ đồ đông máu

Wednesday, November 5, 2014

Xét nghiệm Hemoglobin và ứng dụng trong lâm sàng

Cấu trúc Hemoglobin. Nguồn Internet

NHẮC LẠI SINH LÝ
Hemoglobin (Hb) có TLPT 64 000 dalton, được hình thành từ protein (các globin) và sắc tố (hem).
Globin bao gồm 4 chuỗi polypeptid kết hợp thành 2 cặp globin giống nhau. Có 4 loại globulin là alpha, bêta, gamma và delta. Mỗi phân tử globin gắn với một nhân hem.
Hem có cấu trúc porphyrin (protoporphyrin týp III) chứa một nguyên tử sắt hóa trị 2 ở trung tâm. Như vậy mỗi phân tử Hb có chứa 4 phân tử sắt có khả năng gắn 4 phân tử oxy. Vai trò chính của Hb là để gắn thuận nghịch với oxy và bẫo đảm vận chuyển oxy từ phổi tới các mô.
Trong đời sống ở bào thai và ở trẻ sơ sinh, Hb được thấy dưới dạng Hb bào thai (Hb F) bao gồm 2 chuỗi alpha và 2 chuỗi gamma. Trong 6 tháng đấu tiên, tỉ lệ Hb F giảm xuống dần để được thay thế chủ yếu bằng Hb A gồm 2 chuỗi alpha và 2 chuỗi bêta và với một tỉ lệ thấp hơn bằng Hb A2 gồm 2 chuỗi alpha và 2 chuỗi delta, sau này Hb F chỉ còn tồn tại dưới dạng vết.
Bằng cách định lượng nồng độ hemoglobin trong máu, người ta có thể xác định được khả năng mang oxy của máu. Cả giá trị hemoglobin máu cao hay thấp hơn bình thường đểu nói lên có rối loạn cân bằng của tế bào hồng câu và có thể gợi ý một tình trạng bệnh lý. Ở BN với dịch nội môi bình thường, nồng độ hemoglobin máu bằng khoảng 1/3 giá trị hematocrit.

Monday, November 3, 2014

Xét nghiệm Haptoglobin và ứng dụng trong lâm sàng

Hình ảnh mang tính minh họa. Nguồn Internet


NHẮC LẠI SINH LÝ
Haptoglobin là một protein alpha-2 globin do gan sản xuất. Chức năng chính của protein này là cố định với hemoglobin tự do trong máu để ngăn không cho các phân tử hemoglobin tự do xuất hiện trong dòng tuần hoàn.

Trong điều kiện bình thường có rất ít hemoglobin trong dòng tuần hoàn, tuy nhiên khi các hồng cầu bị phá hủy, nó sẽ giải phóng ra hemoglobin. San khi haptoglobin gắn với hemoglobin tự do, phức chất được tạo thành (haptoglobin-hemoglobin [Hp/Hb]) được vận chuyển ngược trở lại gan và tại đó các thành phần của phức chất này (Vd: sắt và hem) được tái sử dụng. Quá trình nói trên giúp bảo tồn kho dự trữ sắt của cơ thể do ngăn không cho sắt bài xuất vào nước tiểu. Quá trình tái quay vòng sử dụng này sẽ phá hủy haptoglobin của cơ thể.

Sunday, November 2, 2014

Xét nghiệm bảo đảm hòa hợp miễn dịch truyền máu


Khi nhận được phiếu dự trù và mẫu máu người bệnh, nhân viên đơn vị phát máu phải thực hiện các công việc sau:
1. Kiểm tra, đối chiếu thông tin mẫu máu với phiếu dự trù. Trường hợp thông tin không trùng khớp, thì mẫu máu đó không được dùng để định nhóm máu và xét nghiệm hòa hợp.
2. Định nhóm máu hệ ABO mẫu máu người bệnh và đơn vị máu:
a) Định nhóm máu hệ ABO theo kỹ thuật trong ống nghiệm hoặc các kỹ thuật khác có độ nhạy cao hơn;

Wednesday, October 22, 2014

Quy trình truyền máu lâm sàng

Hình ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn Internet


1. Mở đầu
An toàn truyền máu là một quy trình khép kín gồm nhiều giai đoạn trong đó truyền máu lâm sàng là khâu cuối cùng nh­ưng rất quan trọng.
Truyền máu lâm sàng chủ yếu liên quan đến các công tác như chỉ định truyền máu, dự trù máu và chế phẩm máu, lĩnh máu từ trung tâm truyền máu về bệnh phòng và thực hiện truyền máu tại buồng bệnh, theo dõi bệnh nhân trong và sau khi truyền máu cũng như xử lý các phản ứng không mong muốn liên quan đến truyền máu.
Việc truyền máu phải được thực hiện theo quy định của Quy chế truyền máu do Bộ Y tế ban hành ngày 19 tháng 1 năm 2007 (sau đây gọi tắt là Quy chế truyền máu).

Những phản ứng bất lợi với người hiến máu và cách xử trí

Hình ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn Internet
1. Những trục trặc với dòng máu chảy
            Đôi khi, việc chọc ven không hoàn hảo hoặc ven có thể tăng co thắt sau khi chọc làm cho dòng máu không được duy trì ổn định.
Xử trí khi có những trục trặc với dòng máu chảy:
1.      Không được thăm dò trong ven, vì điều này có thể gây tụ máu và làm người cho rất khó chịu.
2.      Rút kim ra và bỏ túi máu đi vì nó có thể bị nhiễm trùng
3.      Không bao giờ được chọc tiếp ở cùng một tay
4.      Động viên người cho, giải thích cho họ một cách đầy đủ về việc chọc ven không hoàn hảo để duy trì được sự tin tưởng của họ, và xin lỗi họ.
            - Nếu người cho máu đồng ý, có thể thử chọc ven tiếp ở tay kia, đảm bảo là có được ven thích hợp. Không được lấy quá 450 ml cho cả hai lần.
            - Nếu thất bại trong việc duy trì sự ổn định dòng máu chảy trong khi lấy máu, người thực hiện chọc ven phải được thông báo ngay lập tức.

Các phản ứng truyền máu và cách xử trí

Hình ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn Internet


Máu và các chế phẩm, cũng như các loại thuốc khác và các phương pháp điều trị khác, đều có các tác dụng có lợi và tác dụng phụ không có lợi cho người bệnh. Thực hiện tốt an toàn truyền máu bao gồm  nắm vững những lợi ích mà truyền máu mang lại đồng thời hiểu rõ những nguy cơ do truyền máu có thể gây ra.
An toàn truyền máu là một quy trình khép kín gồm nhiều giai đoạn trong đó truyền máu lâm sàng đứng ở vị trí cuối cùng nhưng rất quan trọng. Ngân hàng máu phải đảm bảo cung cấp cho các bệnh viện các sản phẩm máu an toàn, có chất lượng. Các bác sĩ lâm sàng tại các bệnh viện có trách nhiệm chỉ định điều trị đúng và hợp lý máu & các chế phẩm, truyền máu và các chế phẩm đúng nguyên tắc và đúng quy trình, xử trí kịp thời và chính xác các tai biến truyền máu.

Thursday, October 16, 2014

Chỉ định sử dụng máu và các chế phẩm máu



Truyền máu là một phương pháp điều trị hiệu quả trong rất nhiều chuyên khoa. An toàn truyền máu đóng vai trò then chốt trong truyền máu. An toàn truyền máu là một quy trình khép kín gồm nhiều giai đoạn trong đó truyền máu lâm sàng có một vị trí quan trọng.
Truyền máu lâm sàng bao gồm hai lĩnh vực: lưu trữ và sử dụng máu và các chế phẩm máu. Lưu trữ bao gồm các hoạt động chuyên môn liên quan đến việc lưu trữ và phát máu và các chế phẩm. Lưu trữ máu và các chế phẩm máu được xếp vào truyền máu lâm sàng vì nó thuộc về trách nhiệm của các bệnh viện chứ không phải của các ngân hàng máu. Sử dụng máu và các chế phẩm bao gồm: chỉ định điều trị đúng và hợp lý máu và các chế phẩm, truyền máu và các chế phẩm đúng nguyên tắc và đúng quy trình, xử trí kịp thời và chính xác các tai biến truyền máu.

Xét nghiệm các đơn vị máu toàn phần và thành phần máu

Hình ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn Internet

I. Nguyên tắc xét nghiệm
1. Phải thực hiện xét nghiệm sàng lọc cho mỗi đơn vị máu, thành phần máu. Không được quy chiếu kết quả xét nghiệm đã thực hiện từ trước hoặc các lần hiến máu trước của người hiến máu cho đơn vị máu, thành phần máu mới hiến, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 15 Thông tư này.
2. Chọn lựa, sử dụng các thuốc thử, sinh phẩm, dụng cụ, thiết bị xét nghiệm bảo đảm chất lượng xét nghiệm sàng lọc đơn vị máu theo quy định của pháp luật. Thực hiện kiểm soát chất lượng sinh phẩm, kiểm tra chất lượng xét nghiệm.